GS. Toán học Nguyễn Tiến Dũng - Đã đến lúc Đảng cần nhượng bộ và tự giảm bớt quyền lực

15:58 |
Giáo sư Toán học Nguyễn Tiến Dũng từ Đại học Toulouse, Pháp cho rằng đã đến lúc Đảng Cộng sản Việt Nam nên có những "nhân nhượng" để chuyển giao quyền lực cho nhân dân.
Trao đổi với BBC Việt ngữ hôm 08/2013 từ Toulouse nhân dịp công bố bài viết "Hiến pháp nào cho Việt Nam," Giáo sư Dũng cho rằng giới trí thức trong và ngoài nước không chỉ dừng ở việc đóng góp cho thay đổi Hiến pháp lần này, mà cũng cần góp ý cho Đảng về một kịch bản chuyển giao quyền lực thích hợp.

Chuyên gia Toán học cũng cho rằng nếu lần sửa đổi Hiến pháp lần này chưa vừa ý nhân dân, thì người dân và các giới cần tiếp tục lên tiếng cho tới khi nào có được một bản Hiến pháp thực sự bảo đảm và bảo vệ các quyền lợi cơ bản của nhân dân.

Ở đầu cuộc trao đổi với Quốc Phương của BBC, Giáo sư Dũng nói về lý do vì sao ông quyết định công bố bài viết về Hiến pháp cho Việt Nam của ông, cho rằng bản dự thảo chính thức về Hiến pháp do chính quyền soạn thảo và đưa ra 'lấy ý kiến' có sự "tồi đi" về mặt chất lượng và ông nhấn mạnh "điều quan trọng nhất" là "những người lãnh đạo cao nhất, những tổ chức cơ quan lãnh đạo cao nhất" mà đặc biệt là đảng cộng sản phải chị sự kiểm soát quyền lực của người dân.


Nguyễn Đình Lộc
Đại diện nhóm nhân sỹ, trí thức, quần chúng trao kiến nghị cho chính quyền

Một giáo sư gốc Việt giảng dạy ở Pháp nói đã đến lúc Đảng cộng sản cần "nới lỏng" để trao trả quyền lực cho nhân dân, chứ không chỉ giới hạn ở việc lấy ý kiến cho bản Dự thảo Hiến pháp chính thức mà chính quyền đang tiến hành hiện nay.

Trao đổi với BBC Việt ngữ từ Đại học Toulouse hôm 08/2/2013, Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng nói ông hy vọng rằng đợt sửa Hiến pháp lần này sẽ là một bước "nhân nhượng" của Đảng để tự "giảm bớt quyền lực."
Ông nói: "Người ta đã nhận thấy người ta không có khả năng ôm đồm quyền lực nữa như là Đảng Cộng sản nghĩ, thì đây là một sự mặc cả giữa Đảng và nhân dân Việt Nam.

"Đảng Cộng sản vẫn có thể sau lần này giữ một vai trò quan trọng nhưng không còn có thể, nói thẳng ra, là độc tài như trước được nữa."

Giáo sư Dũng tin rằng Đảng hiện đang có một vấn đề tâm lý cần vượt qua "là nỗi sợ phải từ bỏ quyền lực" mà từ lâu vẫn độc quyền do xuất phát từ điều mà ông gọi là "tính tham quyền lực."

Ông cho rằng việc người dân và các giới, trong đó có giới trí thức tư vấn cho Đảng về một "lộ trình chuyển giao quyền lực" được hiểu là diễn ra trong hòa bình, công bằng, tránh bạo lực, là "quan trọng" để Đảng có thể tiến hành công việc "nới lỏng và bàn giao quyền lực"
Ông nói: "Hiến pháp sẽ không thể hiện điều đó nhưng chuyện đàm phán để có được điều đó theo tôi rất quan trọng để có thể có được Hiến pháp mới.

"và về phía những người không thuộc phía Đảng mà bây giờ muốn Đảng nới bỏ quyền lực ra thì cũng cần có sự đảm bảo cho những người ở trong Đảng hiện tại những sự đảm bảo nhất định thì họ mới có thể yên tâm nới lỏng quyền lực của mình ra."

Trong khi cho rằng lần sửa đổi Hiến pháp lần này là một "cơ hội" của toàn dân, nhà khoa học cũng tin rằng việc đi tới cải thiện xã hội, trong đó có việc thay đổi, sửa đổi Hiến pháp, là một "trách nhiệm" và một sự nghiệp "không có điểm dừng" của người dân.

Ông Dũng nói: "Nhiệm vụ của người dân là phải tiếp tục tìm cách thay đổi xã hội cho tốt hơn, việc thay đổi xã hội là một chuyện lâu dài và không có điểm nào là điểm dừng, chứ không phải là nếu không được nghe thì thôi, thì bỏ cuộc, vì cứ như thế sẽ không đi đến đâu."

'Điều dân mong muốn'

Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng
Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng (đứng) cho rằng Đảng Cộng sản nên nhân nhượng và tự giảm bớt quyền lực

Trong bài viết mới công bố của mình trên mạng Internet với tựa đề " Bấm Hiến pháp nào cho Việt Nam?," Giáo sư Dũng lưu ý mười nguyên lý mà một bản Hiến pháp cần tôn trọng và thể hiện là pháp trị, logic, nhân quyền, xã hội, bảo vệ, dân chủ, phân quyền - kiểm soát lẫn nhau, minh bạch, tự quản, hòa bình và trung lập.

Ông cho rằng về mặt bản chất, hiến pháp Việt Nam là một "hiến pháp Đảng trị" chứ không phải là dân chủ hay luật trị vì theo ông "dân không được bầu ra lựuc lượng lãnh đạo cao nhất (Đảng) và Đảng không chịu sự kiểm soát thực sự nào từ phía nhân dân."

Nhà khoa học nhắc tới hiện tượng "ôm đòm quyền lực" trong một thể chế mà ông gọi là "chính quyền cảnh sát." Ông viết: "Đảng không những nắm chính quyền, mà còn muốn kiểm soát chặt chẽ tất tật mọi thứ trong xã hội: kinh tế, chính trị, thông tin, văn hóa, tư tưởng, giáo dục, v.v..."

Bình luận về nguyên lý "bảo vệ" của Hiến pháp và đặt câu hỏi "Hiến pháp bảo vệ ai?," nhà toán học viết:"Chính quyền do dân lập nên và vì dân, chứ không phải là vì bản thân cái chính quyền, chính quyền có phải hy sinh để bảo vệ quyền lợi của nhân dân, của dân tộc, thì cũng phải hy sinh."

Sau khi cho rằng bản dự thảo Hiến pháp chính thức của chính quyền có nhiều "vấn đề nổi cộm," nhà khoa học nhấn mạnh: "Để có được một hiến pháp tiến bộ, nhân dân Việt Nam phải ngồi cùng với Đảng Cộng sản VN để sửa hiến pháp.

"Nhưng không phải là sửa theo kiểu dự thảo 01/2013, mà sửa một cách cơ bản, đàng hoàng, dựa trên một mô hình tổ chức mới về chính trị hợp lý hơn dân chủ hơn, có sự kiểm soát tốt hơn, minh bạch hơn, dễ chống tham nhũng hơn, v.v...

"Toàn bộ các nguyên lý cơ bản của một hiến pháp dân chủ tiến bộ phải được tôn trọng trong một hiến pháp mới, đấy mới là điều mà nhân dân Việt Nam mong muốn," ông lưu ý.
Hiện đang có nhiều ý kiến về việc nên hay không nên tham gia đóng góp cho lần sửa đổi Hiến pháp 1992 đang diễn ra, trong đó, có ý kiến phê phán nói chính quyến đặt thời hạn ba tháng để dân góp ý là "quá ngắn và bất hợp lý," trong khi đề dân cần có nhiều thời gian hơn để tìm hiểu và chính quyền cũng cần mở rộng việc thông tin, tuyên truyền cũng như tổ chức các diễn đàn thảo luận.

Trong lúc có ý kiến tin rằng không nên tham gia đóng góp cho Dự thảo vì bản đề án của Chính quyền là "áp đặt," "dân chủ hình thức," thậm chí là "câu giờ" hay "giả hiệu," nhiều diễn đàn đã được mở ra trên mạng.

Gần đây, một bản kiến nghị về Hiến pháp mới đã được đại diện các trí thức, nhân sỹ và quần chúng giao cho chính quyền đầu tháng Hai với hơn hai nghìn chữ ký đi kèm vào thời điểm đó.

(BBC)

Nguyễn Hưng Quốc - Từ anh hùng đến bạo chúa

12:45 |
07.02.2013
Ở Việt Nam, đảng Cộng sản thường hay nói: Họ là những người có công trong việc giành độc lập cho đất nước từ tay thực dân Pháp vào năm 1945, bởi vậy, chỉ có họ mới xứng đáng giữ vai trò lãnh đạo đất nước, hơn nữa, độc quyền lãnh đạo đất nước. Mỗi lần nghe những câu nói như vậy, tôi lại nhớ đến các nhà độc tài ở châu Phi và châu Á: Hầu hết đều bắt đầu “sự nghiệp” tàn phá đất nước của họ như những anh hùng!

Thì Pol Pot (1925-1998) cũng là một “anh hùng” của Campuchia đấy chứ? Ông đã lãnh đạo đảng Cộng sản Campuchia lật đổ Norodom Sihanouk, “giải phóng” đất nước của ông và có “công” biến Campuchia thành một nước “xã hội chủ nghĩa thực sự”. Kết quả, ai cũng biết: thứ nhất, ông đã giết khoảng từ một triệu đến ba triệu người, tức khoảng 25% dân số Campuchia; thứ hai, biến Campuchia suýt trở lại thời kỳ đồ đá trong vòng ba năm; và cuối cùng, biến Campuchia thành thuộc địa của Việt Nam, ít nhất trong vòng hơn 10 năm, từ 1978 đến 1989.

Muammar Muhammad Abu Minyar al-Gaddafi (1942-2011) cũng là một “anh hùng” của Libya, hơn nữa, có lúc, còn được xem là “anh hùng” của cả châu Phi đấy chứ? Ông đã lật đổ được vua Idris, giải thể chế độ quân chủ, thành lập Cộng hòa Ả Rập Libya với “định hướng” xã hội chủ nghĩa, tiến hành các cuộc “cách mạng bình dân” và hỗ trợ các phong trào đấu tranh độc lập ở một số nước châu Phi. Kết quả? Với Libya, kinh tế thì kiệt quệ, đối ngoại thì bị cô lập, đời sống dân chúng thì vô cùng điêu đứng. Với bản thân ông thì bị thế giới nhìn như một con chó điên, và cuối cùng, con chó điên ấy bị kéo lên từ ống cống để đền tội.

Dù sao Pol Pot lẫn Gaddafi cũng đều đã chết. Ở châu Phi hiện nay vẫn còn một số “anh hùng” khác chưa bị đền tội. Trong số đó, “nổi tiếng” hơn cả là Robert Mugabe ở Zimbabwe.

Sinh năm 1924, lúc Zimbabwe còn là một thuộc địa của Anh, Mugabe, cũng giống như nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam, tham gia cách mạng từ nhỏ và cũng chịu đựng cảnh bắt bớ và tù tội liên miên. Nhưng khác với giới lãnh đạo Việt Nam, ông rất chịu khó học tập. Sau khi tốt nghiệp ngành Sư phạm, trở thành thầy giáo, ông còn học, chủ yếu bằng cách hàm thụ, ở một số đại học ở Nam Phi và Anh, để lấy thêm sáu cái bằng nữa, gồm: bằng Cử nhân về Quản trị và Cử nhân Giáo dục (từ Đại học Nam Phi), Cử nhân Khoa học, Cử nhân Luật, Thạc sĩ Khoa học và Thạc sĩ Luật (tất cả đều từ trường Đại học Mở rộng London). Trong số các bằng ấy, hai bằng về luật được ông học trong thời gian ông còn ngồi trong nhà tù, từ 1964 đến 1974.

Từ thập niên 1960, Mugabe nổi lên như một anh hùng trong phong trào du kích chống chính quyền da trắng của Ian Smith để giành độc lập cho nước ông. Những án tù đày càng làm tăng uy tín của ông trong dân chúng. Ra khỏi nhà tù năm 1974, ông được bầu làm lãnh tụ Liên hiệp Quốc gia Phi châu Zimbabwe (ZANU), cuối cùng, năm 1980, ông trở thành thủ tướng đầu tiên của Zimbabwe độc lập. Sau đó, năm 1987, ông trở thành tổng thống. Từ đó đến nay, ông liên tục tái đắc cử tổng thống: 1990, 1996, 2002 và 2008.

Nhưng dưới sự lãnh đạo của ông, đất nước Zimbabwe ra sao?

Sau 30 năm chịu sự lãnh đạo “thiên tài” của Mugabe, Zimbabwe, từ một quốc gia được xem là giàu có ở châu Phi đã biến thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới.  Tổng sản phẩm nội địa của Zimbabwe vào năm 2012 là khoảng 500 đô la trên đầu người; tỉ lệ thất nghiệp vào năm 2009 là 95%; trị giá một Mỹ kim vào năm 2008 là 430.000 (gần nửa triệu) đồng bạc Zimbabwe. Không có nước nào trên thế giới có đồng tiền bị mất giá nhanh như đồng bạc Zimbabwe. Ngay trước khi độc lập, một đồng Rhodesia (tên cũ của Zimbabwe) trị giá một nửa bảng Anh. Năm 1987, Zimbabwe in tiền riêng, thoạt đầu, một đồng Zimbabwe cao hơn một đô la Mỹ. Sau đó, đồng tiền cứ mất giá liên tục; mỗi lần quá mất giá, chính phủ lại in tiền mới; khi tiền mới lại mất giá, họ lại in loại tiền khác. Cứ thế, liên tục.

Lạm phát ở Zimbabwe không được gọi là lạm phát. Mà là siêu lạm phát (superinflation). Ở những nơi khác, lạm phát vài trăm, hay thậm chí, chỉ vài chục phần trăm là đã thấy khủng khiếp. Ở Zimbabwe, ví dụ vào năm 2008, lạm phát lên đến hàng tỉ tỉ phần trăm! (Con số lạm phát chính xác vào tháng 11 năm 2008 là 79.600.000.000% (bảy mươi chín ngàn sáu trăm tỉ!) Có lúc cả tỉ đồng Zimbabwe không đủ để mua một ổ bánh mì. Để cứu vãn tình hình kinh tế, vì không ai còn tin tưởng vào đồng tiền Zimbabwe nữa, từ năm 2009, chính phủ chấp nhận đồng Mỹ kim là đồng tiền chính thức để mua bán khắp nơi. Đến lúc ấy lại nảy sinh một vấn đề khác: Vì vật giá ở Zimbabwe quá rẻ, mua cái gì cũng chỉ có mấy xu, do đó, nếu bạn cầm một tờ 5 đô la, chẳng hạn, người bán hàng sẽ không có tiền để thối lại. Đưa tờ một đồng, người ta cũng không có tiền cắc để thối lại.

Để thấy “công lao” của Mugabe, chúng ta có thể nhìn vào bản đồ biểu tổng sản phẩm  nội địa của Zimbabwe từ năm 1980 đến năm 2005 dưới đây:

​​
Về phương diện y tế, tuy Zimbabwe có giảm tử suất của trẻ sơ sinh nhưng tuổi thọ trung bình của người dân thì càng ngày càng giảm, từ 59.1 tuổi vào năm 1980 xuống còn 45.1 tuổi vào năm 2008.

Năm nay, Mugabe đã gần 90 tuổi. Báo chí tường thuật trong nhiều cuộc họp hay hội nghị kể cả với các chính khách thế giới, ông ngồi ngủ gục ngon lành! Gần đây, ông bị bệnh, phải sang Singapore chữa trị. Thế nhưng ông vẫn không có ý định từ chức. Ông vẫn cho chỉ có ông mới xứng đáng để lãnh đạo đất nước. Rất nhiều người đối lập bị ông giết chết; vô số người khác bị ông bỏ tù. Với bàn tay sắt, ông chà đạp lên cả dân chủ lẫn nhân quyền, bất chấp sự phê phán và lên án của quốc tế.

Tin mới nhất liên quan đến Zimbabwe: Đầu năm 2013, Bộ trưởng Tài chính Zimbabwe tuyên bố, sau khi trả tiền lương cho các công chức, trong quỹ của họ chỉ còn lại có hai trăm mười bảy đô la (217 dollars). Họ định sẽ tổ chức bầu cử trong năm nay. Chi phí cho cuộc bầu cử dự định là khoảng 104 triệu. Bây giờ với cái ngân khố trống rỗng như vậy, họ lo là sẽ không thể tổ chức bầu cử được!

A! Ít ra Zimbabwe cũng còn nghĩ đến chuyện bầu cử!

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Hiến pháp, những “trò khỉ” và chuyện góp ý hay không

01:54 |
Năm 2013 khởi đầu bằng một sự kiện mà tới bây giờ vẫn còn rất “nóng”, đó là chuyện Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 của Đảng, công bố “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” để công chúng góp ý.

Xét về tính chất thì đây là một “sinh hoạt chính trị” do Đảng đề xướng và thực tế cho thấy là đến giờ, Đảng đã đạt được một số “thành quả nhất định” từ đợt “sinh hoạt chính trị” này.

Nhiều blogger, facebooker đã nêu ý kiến, thảo luận về các góp ý cho “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992”. Trong đó, đáng chú ý nhất là “Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp” do 72 nhân sĩ, trí thức khởi xướng (ở đây, mình xin tạm gọi là “Kiến nghị 72”).

Ngoài 7 đề nghị cụ thể, 72 vị nhân sĩ, trí thức khởi xuớng “Kiến nghị 72” còn giới thiệu một bản Hiến pháp do họ tự soạn thảo với 9 chương và 81 điều (1). Tính đến ngày 5 tháng 2, sau 12 đợt thu thập chữ ký, “Kiến nghị 72” có hơn 2.500 công dân thuộc đủ các vùng, miền, thành phần xã hội, tôn giáo, tuyên bố ủng hộ.

Tuy nhóm khởi xướng “Kiến nghị 72” vẫn còn tổ chức thu thập chữ ký ủng hộ “Kiến nghị 72” nhưng hôm 4 tháng 2 vừa qua, họ đã cử 15 vị đại diện đến Văn phòng Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp, để trao “Kiến nghị 72”.

Nói cách khác, nhóm khởi xướng “Kiến nghị 72” và những công dân tuyên bố ủng hộ kiến nghị này đã làm xong công việc của họ, theo đúng đề nghị của Đảng. Phải chờ “hồi sau mới rõ” Đảng sẽ thực thi trách nhiệm của phía “xin góp ý” với bên đã tích cực “cho ý kiến” như thế nào.

Dù chưa biết Đảng sẽ tiếp nhận “Kiến nghị 72” và ứng xử với cả “Kiến nghị 72” lẫn những người tuyên bố ủng hộ kiến nghị ra sao, song mình vẫn thấy việc soạn thảo, tuyên bố ủng hộ, gửi “Kiến nghị 72” cho Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp là điều hết sức cần thiết.

1.

Trong 68 năm ở vị trí tổ chức chính trị nắm giữ quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội tại Việt Nam (1945-2013), Đảng đã “chế tạo thành công và đưa vào sử dụng” năm bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2001 – bản sửa đổi bản 1992 và đây mới thật sự là bản Hiến pháp hiện hành).

Nếu mình không lầm thì cả trong lịch sử nhân loại, lẫn pháp chế sử của loài người, Đảng CSVN là tổ chức chính trị duy nhất lập - giữ kỷ lục về “chế tạo và sử dụng Hiến pháp”. Dưới “sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt” của Đảng, “Hiến pháp” trở thành một thứ áo khoác, thường xuyên được cắt - may “cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ trong giai đoạn mới”, “bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng” tại Việt Nam.

Khi “Hiến pháp” không còn nguyên nghĩa và được “chế tạo, sử dụng” như một thứ áo khoác, có lẽ không ngoa nếu gọi đó là “trò khỉ”. Riêng với Hiến pháp, Đảng đã có năm lần chơi… “trò khỉ” và hình như Đảng toan giở “trò khỉ” thêm một lần nữa.

Sở dĩ mình nói như thế vì lần này, kế hoạch “sửa đổi Hiến pháp” cũng có đầy đủ các dấu hiệu của một thứ “trò khỉ”. Nếu không có thời gian đọc, phân tích nhưng muốn biết “trò” này “khỉ” đến mức nào, các bạn ít theo dõi thời sự có thể tìm xem “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp” của bác Hoàng Xuân Phú (2).

Dẫu thấy và đã chỉ ra rất rõ, rất thuyết phục về “tính khỉ” trong trò khỉ mang tên “sửa đổi Hiến pháp 1992” nhưng bác Phú vẫn tham gia nhóm soạn thảo, gửi “Kiến nghị 72”. Vì sao? Phải chăng cả bác Phú lẫn 71 vị còn lại trong nhóm soạn thảo, gửi “Kiến nghị 72” và hơn 2.500 công dân đã chính thức tuyên bố ủng hộ kiến nghị này đều ngây thơ và làm chuyện hết sức vô ích như bạn Kami nhận định trong bài “Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp?” (3)?

Suy nghĩ mà bạn Kami trình bày qua “Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp?” khá phổ biến nhưng theo mình, lối suy nghĩ và cách hành xử đó không đúng trong bối cảnh như hiện nay.

Tên tuổi, lai lịch của từng vị trong danh sách 72 vị khởi xướng “Kiến nghị 72” cho thấy, có rang cũng không thể xếp bất kỳ ai vào diện “ngây thơ”. Tất cả đều thuộc nhóm “dư hiểu biết và thừa kinh nghiệm” cả về Đảng lẫn hiện tình chính trị Việt Nam. Mình không tin có vị nào trong số 72 vị này tin chắc, rằng Đảng sẽ tiếp nhận “Kiến nghị 72” một cách vui vẻ, trọng thị và xem xét kiến nghị đó một cách nghiêm túc. Vậy thì tại sao họ vẫn soạn – giới thiệu - kêu gọi ủng hộ - gửi?

Mình không dám võ đoán nhưng nếu mình là Đảng thì rõ ràng “Kiến nghị 72” là thứ rất khó nuốt nhưng không nuốt thì cũng giống như tự khắc họa cho “tính khỉ” của “trò khỉ”, được đặt tên là “sửa đổi Hiến pháp 1992” rõ nét hơn và thiên hạ thêm chán ghét hơn..

“Kiến nghị 72” cũng có thể sẽ tiếp tục vào sọt rác như nhiều kiến nghị khác nhưng với mình, tất cả các kiến nghị đã bị Đảng xem như rác đều có giá trị. Nó là hình thức nhắc nhở Đảng một cách công khai và rất đường hoàng rằng, càng ngày, càng nhiều nhân sĩ, trí thức, công chúng thuộc đủ mọi vùng, miền, thành phần xã hội, tôn giáo, kể cả cán bộ, Đảng viên của Đảng, không đồng tình với những việc Đảng làm. Rằng các hình thức trấn áp không còn hiệu quả nữa. Rằng tất cả các trò bịp bợm sẽ bị vô hiệu hóa, sẽ trở thành phản tác dụng và tất nhiên, “mỡ nó” sẽ được dùng để “rán nó”...

Thành ra, nếu bạn cũng muốn nhắc nhở Đảng một cách công khai và rất đường hoàng như vậy, hãy tuyên bố ủng hộ “Kiến nghị 72” bằng chữ ký của bạn.

2.

Sẵn dịp Đảng mời gọi góp ý “sửa đổi Hiến pháp 1992”, mình muốn thưa riêng với các bác lãnh đạo Đảng đôi lời.

Thưa các bác, trong chính trị, niềm tin là một loại “vốn đặc biệt”. Do ngu dốt, chủ quan, lại còn tham và ác, các bác đã tiêu sạch khoản “vốn đặc biệt” này. Lẽ ra nên ngừng “chơi”, các bác vẫn muốn “gỡ gạc” bằng cách bày thêm một ván bài nữa. Trong ván bài “củng cố và giữ quyền lực”, các bác không chỉ đã “cháy túi” mà thiên hạ còn tỏ tường việc các bác chuyên đánh “bạc bịp”. Trò “sửa đổi Hiến pháp 1992” do các bác bày ra giống như chuyện “lột nốt” và “đặt cược” bằng “cái quần đùi”. Nó vừa thảm hại, vừa nhiều rủi ro.

Ở tình thế như hiện nay, các bác nên làm cho thiên hạ thương, đừng tiếp tục hành xử theo kiểu vừa gian, vừa láo. Các bác cũng nên thôi hoang tưởng về khả năng “Muôn năm trường trị. Nhất thống giang hồ” như Nhậm Ngã Hành trong “Tiếu ngạo giang hồ” của Kim Dung. Hãy xem “Kiến nghị 72” là một cơ hội. Bỏ qua cơ hội cuối cùng này, các bác sẽ mất luôn cái “quần đùi”, hoàn toàn trần truồng, ở không được mà về cũng chẳng còn lối.

Đồng Phụng Việt

-------------------
Chú thích

(1) Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp 1992

(2) Teo dần quyền con người trong Hiến pháp

(3) Kami - Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp?
http://www.rfavietnam.com/node/1506

(FB Dong Phung Viet)

Khi báo Nhân dân giới thiệu dâm thư và phim kinh dị

17:35 |
Báo Nhân dân không ai đọc, nhiều người nghĩ thế. Tôi cho rằng họ sai. Độc giả của tờ báo đầu đàn chính thống này là một tầng lớp đặc biệt, trước hết gồm các đảng viên, tức những người thuộc giai cấp cầm quyền chính trị; sau nữa đến bản thân giới truyền thông, vì cùng với Thông tấn xã Việt Nam, Đài Phát thanh và Đài Truyền hình, tờ Nhân dân thuộc bộ tứ định hướng tuyên giáo cho toàn bộ giới truyền thông còn lại [i]; và cuối cùng, ít nhất là những người từ nhiều lí do khác nhau quan tâm đến khí hậu chính trị Việt Nam: Họ phải xem dự báo thời tiết. Với trên 200.000 bản in phát hành đến tận các chi bộ, trang Nhân dân Điện tử và ước chừng không ít hơn nửa triệu độc giả chốt tại nhiều mắt xích quan trọng của chuỗi quyền lực chính trị và truyền thông, ảnh hưởng của tờ Nhân dân đủ lớn để không thể bị coi đơn giản là giấy lót nồi. Vai trò dẫn đường cho dư luận dòng chính của tờ Nhân dân về cơ bản không khác vai trò của một tờ như New York Times – sự khác nhau giữa hai bên ở cơ chế vận hành của vai trò đó không đặt ra trong bài này.

Dù khí hậu tinh thần về đại cục không thay đổi đáng kể, theo cảm nhận của tôi, thời tiết văn hóa ở Việt Nam đã bớt khắc nghiệt hơn nhiều so với một, hai thập kỉ trước. Những năm 90, thật khó hình dung một tác phẩm như Lolita nằm đàng hoàng trên các rạp sách ở Việt Nam. Khi ấy tập truyện ngắn của tôi do Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành bị thu hồi vì lí do “mang tính kích dục”. Gần hai mươi năm sau, báo Nhân dân dành cho Lolita những lời thiện cảm và không quên cả quảng cáo cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Stanley Kubrick. Tôi nhớ đến lời tuyên bố của tác giả Lolita, nhà văn Nga lưu vong Nabokov, rằng ngoài một phương châm cực kì đơn giản và dễ nhớ thì ông không quan tâm đến chính trị. Phương châm đó như sau: tất cả những gì có lợi cho “bọn Đỏ” – chỉ những người cộng sản – thì ông chống và tất cả những gì bất lợi cho “bọn Đỏ” thì ông theo. Tôi thấy mừng vì thế giới thời tôi sống hơi phức tạp hơn một chút so với phương châm đó. Nhưng còn gì đáng thích thú hơn việc cơ quan ngôn luận đầu não của một Đảng Cộng sản trước sau vẫn cứng rắn và giáo điều trong ý thức hệ lại khen ngợi tác phẩm từng bị coi là scandal đồi trụy của một nhà văn ghét cộng sản đến đào đất đổ đi.

Cuốn Fifty Shades of Grey
Song thế chưa phải là hết. Tờ Nhân dân còn sẵn sàng cho những bất ngờ khác, đáng sửng sốt đến mức tinh thần chính thống cũng phải khâm phục sự đột biến sinh học của chính mình. Giữa năm ngoái, tờ báo này đăng một bài giới thiệu cuốn Fifty Shades of Grey, cũng với nhiều thiện cảm, thậm chí có thể gọi là thán phục. Với cách phiên âm tên nước ngoài độc nhất vô nhị của mình, ban biên tập còn đóng chứng nhận sản phẩm “chỉ có ở báo Nhân dân” cho bài quảng cáo đó.

Đứng cách Lolita một lịch sử văn học mênh mông, cuốn 50 sắc thái xám không hề là một scandal, dù nó trưng bày mu và mồng, mông và mồn như ở quầy bán thịt trong siêu thị và cung cấp đủ tinh trùng để phun ướt đẫm nhiều trang sách. Nó đơn giản là một cuốn dâm thư có thành công thương mại khổng lồ nhờ hội được nhiều may mắn của hoàn cảnh ra đời. Tôi cũng góp phần mình vào thành công đó, bằng cách mua đến 5 cuốn tặng năm người bạn, những phụ nữ vừa tròn tuổi 50.

Không lâu nữa, cả bộ ba tập 50 sắc thái xám của Nhà xuất bản Lao Động và Công ti Alphabooks sẽ được phát hành chính thức tại Việt Nam. Độc giả Việt đã trưởng thành. Báo Nhân dân  không hề yêu cầu dâm thư phải đóng góp vào việcbồi dưỡng lí tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức, tình cảm, cảm thụ thẩm mĩ cho con người”. Mới đây tờ báo này còn có lời ca ngợi hiện tượng điện ảnh thế giới “nổi bật”, bộ phim kinh dị Mẹ Ma (Mama). Phim này đang được chiếu trên toàn quốc.

Khi báo Nhân dân giới thiệu dâm thư và phim kinh dị thì Việt Nam đã bước vào thời đại văn hóa giải trí và thương mại. Tôi không có gì phản đối điều đó. Thay được toàn bộ nền văn hóa tuyên truyền bằng văn hóa giải trí thuần túy thì phúc của chúng ta còn lớn lắm. Tác hại của nghệ thuật giải trí cũng thua xa của nghệ thuật tầm phào. Tôi thích xem 007 hơn những bộ phim lên gân mà nhẽo nhợt của nền điện ảnh nghiêm túc Việt Nam, thích đọc Harry Potter hơn những bài thơ gửi một thoáng tâm hồn cao thượng, nhạy cảm, sâu sắc, nhân ái vào một thế chấp vẩn vơ nào đó. Đọc Harry Potter, ít nhất tôi được biết rằng ở tuổi 82 khả kính, tổ chức chính trị khuynh loát toàn bộ xã hội Việt Nam bỗng tuân theo kịch bản hành động của một bộ truyện phù thủy dành cho trẻ em. Tôi thấy một nhân vật bước thẳng từ hư cấu ra hiện thực. Kẻ mà ai cũng biết (You-Know-Who) nhưng không được phép nêu tên (He-Who-Must-Not-Be-Named): Đồng chí X ra đời từ đồng chí Voldemort, nguyên mẫu của ông trùm đỏ là vị chúa tể đen hắc ám (The Dark Lord).

Song quê hương yêu dấu của tôi sẽ không còn là nó, nếu ở đó có một cái gì mà lí trí bình thường có thể nắm bắt. Ở đó sự cởi mở thì khác thường, sự khắc nghiệt thì phi thường, và bình thường là tất cả những ấm ớ hội tề còn lại. Trong khi bộ phim bạo lực mới toanh với diễn viên cơ bắp và Cựu Thống đốc California Arnold Schwarzenegger được duyệt thì Đấu trường sinh tử (The Hunger Games) bị cấm. Trong khi Thông tấn xã Việt Nam ca ngợi màn trình diễn “vô cùng đặc sắc và bất ngờ” với vài mảnh vải che thân của ca sĩ Mỹ Beyonce ở Super Bowl thì Nghị định 79 đem cái vung “thuần phong mĩ tục và truyền thống văn hóa dân tộc” đậy lên da thịt của sao Việt. Và thời tiết văn hóa Việt Nam tưởng đã thoáng đãng hơn nhiều lại thản nhiên chìa ra bộ mặt nghiệt ngã của nó, khi những ngày qua chúng ta vĩnh biệt một nghệ sĩ lớn, nhạc sĩ Phạm Duy. Gần trọn một thế kỉ, ông đã sống và minh họa giai đoạn đau thương, chia cắt và phức tạp nhất trong lịch sử nước Việt từ nhiều chỗ đứng. Chỗ cuối cùng mà ông chọn và để nằm xuống là chỗ kiên quyết chỉ dành cho ông 1/10 sự thừa nhận sự nghiệp, dù ông đã bày tỏ thiện chí tới mức như tỏ tình, tới mức như cầu xin. Số tác phẩm được cấp phép của một nghệ sĩ nổi tiếng khác, Trịnh Công Sơn, đã mất từ hơn mười năm nay, còn ít hơn nữa.

Cho nên tín hiệu khác thường từ việc thả luật sư Lê Công Định trước thời hạn cùng lắm chỉ ngang giá trị với việc báo Nhân dân giới thiệu dâm thư và phim kinh dị. Vài ngày trước, cũng chính quyền ấy kết án 299 năm tù cộng một bản án chung thân cho 22 người phần lớn đã cao tuổi, vì khu du lịch sinh thái mà họ chung lưng tạo dựng bị coi là căn cứ địa để lật đổ chính quyền và học thuyết chống đối của họ là sấm Trạng Trình.

Tháng 2 8, 2013

Phạm Thị Hoài

© 2013 pro&contra


[i] Tổng Biên tập báo Nhân dân ít nhất phải là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đều giữ vị trí cao hoặc cao nhất trong hệ thống tuyên giáo. Ông Đinh Thế Huynh, Tổng Biên tập nhiệm kì trước kéo dài một thập kỉ, đồng thời là Chủ tịch Hội Nhà báo, hiện là Ủy viên Bộ Chính trị và Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.

Giấy bạc 30 đồng và trí tuệ lãnh đạo

16:11 |
Cách đây mười mấy năm, trong nhà tôi có treo một bức tranh.

Bức tranh treo trong phòng vệ sinh để mỗi khi vào đó tôi có thể vừa trút bầu tâm sự, vừa ngẫm nghĩ tìm hiểu làm sao có thể có một sự việc lạ và khó hiểu như vậy, tuy rằng trút bầu tâm sự là một nhu cầu sinh học tự nhiên của thể xác, hoàn toàn không liên can gì tới sự vận hành phức tạp của tư tưởng. Bức tranh gồm có hai tờ giấy bạc 30 đồng của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam in năm 1981 và 1985. Từ khi có bức tranh, tôi hay suy nghĩ và thỉnh thoảng cứ nấn ná thêm vài giây trong phòng vệ sinh (là chỗ đáng lẽ không nên ở lâu, nhưng quả tình tôi không biết treo bức tranh này nơi nào khác trong nhà).

Điều băn khoăn của tôi là người ta sẽ xếp bao nhiêu tờ 30 đồng để được một xấp có giá trị chẵn 100, hay 1000, hay 1 triệu... trong hệ thống thập phân cho thuận tiện với công việc của ngành ngân hàng, tài chính, hay mọi sinh hoạt liên quan đến tiền bạc. Đôi khi tôi suy luận: nguyên do là, khoảng đầu thập niên 1980, nền kinh tế của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chịu sự chỉ đạo của một nhà thơ cấp trung ương quyền năng bao trùm trời đất. Và khi nhà thơ đi làm kinh tế thì chuyện gì cũng có thể xảy ra theo trí tưởng tượng phong phú vốn có của các nhà thơ nói chung, và tờ 30 đồng là biểu hiện cụ thể của tài năng về mặt chính sách kinh tế của nghề làm vè cổ động của nhà thơ này nói riêng. Và chẳng những một lần rồi thôi, hai tờ giấy bạc phát hành cách nhau bốn năm, có lẽ không ai trong bộ máy nhà nước đả động gì đến cái mệnh giá vượt ngoài sức tưởng tượng của nó. Hay thiên hạ biết mà mặc kệ, vì chẳng tội vạ gì nói ra nói vào, làm phiền lòng nhà thơ quyền uy lẫm liệt, để rồi có ngày mang lụy!

Giấy bạc 30 đồng
Một anh bạn gốc Miến Điện rất tếu táo của tôi kể rằng bên xứ anh hồi cuối thập niên 1980 cũng phát hành tờ giấy bạc 3 đồng. Tôi nhờ anh này tìm cho những tờ bạc đó để có bằng cớ chứng minh rằng trong cõi thế gian rất nhiều chí lớn gặp nhau. Nhưng tôi ngờ rằng anh ta chỉ ba đía, ba xạo, nói cho vui trong đám bạn bè, vì anh ta cứ khất lần chẳng thấy đưa. Rồi từ đó mỗi ngày tôi ngắm bức tranh của nền cộng hoà xã hội chủ nghĩa vài lần, tùy theo bụng dạ có óc ách hay không. Nhiều khi tôi cứ ngẩn người ngồi ngắm tranh và suy nghĩ, quên mất nhiệm vụ hiển nhiên khi vào phòng vệ sinh. Bức tranh dường như ngày càng trở thành một mối ám ảnh không ổn và bất lợi cho bộ máy tiêu hoá.

Một người bạn lớn tuổi thấy tôi cứ nhùng nhằng như thế nên anh í tội nghiệp, và cũng có ý để tôi bớt ở lâu trong phòng vệ sinh, nên đã tìm ra một lý do rất thuyết phục cho sự việc tờ giấy bạc 30 đồng như sau: “Thì khi tao đi chợ mua món hàng 70 đồng, tao đưa 100 đồng, người bán hàng thối lại một tờ 30 đồng chẵn chòi, tiện lợi, khỏi cộm túi chứ sao”. Eureka! Có lẽ ông Archimedes khi thấy ông ấy nổi lềnh bềnh trong bồn tắm để trở thành nhà vật lý đại tài cũng chưa chắc đã hạnh phúc như tôi sau khi nghe bạn mình lý giải. Vì thế tôi đặt tên cho bức tranh trong phòng vệ sinh của mình là “... Trí tuệ”, với đầy đủ hai dấu ngoặc kép và ba dấu chấm.

Nếu câu chuyện đến đây là chấm hết thì cũng chẳng có gì. Nhưng cuộc sống không đơn giản và thường có những thứ lắt nhắt làm mất vui.

Một hôm, một anh bạn khác đến chơi và cũng cần trút bầu tâm sự. Sau khi thoải mái xong, anh bước ra tưởng rằng vẻ mặt hớn hở, nhưng té ra rất nghiêm trọng và bảo tôi: “Mày là CS!” Khi ấy trời long đất lở, núi St. Helens phun lửa, cơn bão Katrina đổ ập vào, lốc xoáy nhổ tung những cây đại thụ trong công viên quốc gia, sóng thần dâng lên ngập kinh đào Panama và kinh đào Suez, tháp Eiffel nghiêng ngửa như tháp Pisa. Sau khi định thần, nghĩa là thấy trời đất yên tĩnh trở lại, tôi bèn hỏi anh bạn công an chính trị không nhiệm sở nhưng có mặt khắp xó mọi nơi trên thế giới: Vì sao có chuyện kinh khủng như thế? Anh ấy phán: “Treo hình ... trong nhà có nghĩa mày là CS”. Tuy hiểu chữ CS rất khác với anh bạn thánh sống toàn trí toàn năng này, nhưng tôi biết anh ta muốn nói đại khái rằng tôi là một thứ xấu xa ghê tởm lắm. Tôi cảm thấy nghẹt thở, vội vàng vào phòng vệ sinh rửa mặt cho tỉnh táo lại, và khi nhìn lên thì đúng thật, trời ơi: Tôi treo hình ... trong nhà! Không những một, mà những hai tấm hình. Từ đó tôi cất bức tranh đi để cuộc sống bớt ngột ngạt.

Nhưng thỉnh thoảng lại lôi ra ngẫm nghĩ.

Phạm Ngũ

(Blog Phước Béo)

Bùi Tín - Xe bốn bánh nhãn hiệu 'NKG'

12:54 |
Cuộc thảo luận về hiến pháp mới đang được mở rộng. Đã có kiến nghị kéo dài thời gian góp ý kiến suốt cả năm để cuộc góp ý được đầy đủ, đến nơi đến chốn. Cũng có ý kiến nên mở đầu bằng một quyết định lịch sử là chuyển hẳn hệ thống độc đảng sang hệ thống dân chủ đa đảng, như tuyệt đại đa số các nước dân chủ trên thế giới.

Tôi bỗng nhớ đến Nguyễn Kiến Giang, một cán bộ nghiên cứu, một nhà báo trẻ nổi bật trong tư duy độc lập, do đó gặp nhiều trắc trở, oan khiên. Anh có tâm huyết đặc biệt xây dựng một nước Việt Nam dân chủ đích thật. Dạo này anh rất ít lên tiếng, do sức khỏe anh sa sút nhanh, sau nhiều đợt bị kết án “chống đảng “, mỗi đợt là những năm dài trong tù, rồi bị quản thúc nghiêm ngặt.

Anh bị đảng của mình trừng phạt vì dám cứng đầu đòi từ bỏ những điều cổ lỗ có hại mà đảng quyết tâm kiên định, như kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, chế độ độc đảng, coi quốc doanh là chủ đạo nền kinh tế. Bản án thứ nhất nằm trong 34 nhân vật “xét lại - chống đảng “, năm 1964 bị tù 5 năm, đến năm 1990 lại dính vào vụ án đòi đa nguyên liên quan đến các ông Trần Xuân Bách, rồi Phạm Quế Dương, Lê Hồng Hà, Hà Sỹ Phu … lại ở tù CS năm năm nữa. Đảng Cộng sản ở đâu cũng vậy, cứ như nghiện ăn thịt những đứa con xuất sắc nhất, có tư duy độc lập sáng tạo. Thế là anh chào “bai” đảng, một đi không trở lại, như các “đồng chí” Phạm Đình Trọng, Nguyễn Chí Đức gần đây.

Nguyễn Kiến Giang sinh năm 1931 ở Quảng Bình, bên dòng sông Kiến Giang. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, anh mới 15 tuổi. Chăm học, thông minh, có tinh thần tự lập, anh là một cán bộ xuất sắc cấp tỉnh khi mới 20 tuổi. Năm 1954 anh ra Hà Nội đảm nhận trách nhiệm phó giám đốc Nhà xuất bản Sự Thật. Tại đây anh có dịp tiếp nhận đủ các loại sách báo từ Nga, Pháp, Anh… mở rộng hiểu biết ra thế giới. Anh mê say đọc, suy tư, tranh luận, lật qua lật lại vấn đề. Cuốn sách sưu tầm lịch sử đầu tiên do anh biên sọan là “Việt Nam - Năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám“ viết vào năm 1947 nhưng đến nay vẫn bổ ích cho các nhà nghiên cứu. Nay anh 72 tuổi rồi mà hoài bão dân chủ vẫn chưa thành. Chắc anh đau lòng lắm.

Nguyễn Kiến Giang xác quyết: Độc quyền trên lĩnh vực nào cũng tệ hại, mang sức tàn phá. Về kinh tế, độc quyền của quốc doanh buộc toàn dân nhiều khi phải ăn gạo mốc, thịt thiu, cá ươn, nước mắm thối, dùng xà phòng chảy nước do không có sự lựa chọn, thay thế. Độc quyền văn hóa nghệ thuật làm văn thơ, âm nhạc, hội họa chỉ có một phong cách hiện thực, nhàm chán. Độc quyền đảng trị còn nguy hiểm gấp bội vì không có ganh đua, kiểm soát, kiềm chế, can ngăn, lại không thời hạn.

Trên sách báo Nguyễn Kiến Giang thường ký tên Lương Dân hay Lê Diên. Anh là một cây bút trẻ trong suy tư, già dặn, uyên thâm, luôn có ý mới, kịp thời đại.

Tôi nhớ rất rõ ý kiến của anh về một nền chính trị lành mạnh, tiên tiến, đa nguyên đa đảng, trong đó đảng Cộng sản sẽ có vai trò quan trọng, tùy theo khả năng trí tuệ và đạo đức của đảng. Có thêm 1 hay 2 đảng cùng ganh đua trong tình đồng bào, nghĩa anh em với nhau là điều bình thường, cần thiết, có lợi chung. Năm 1988, Nguyễn Kiến Giang cảnh báo đảng Cộng sản Việt Nam phải thức thời, dẹp bỏ ngay thái độ kiêu ngạo, cần khiêm tốn tự nâng cao trình độ, sẵn sàng ganh đua bình đẳng với các đảng anh em khác. Đó có thể là các đảng yêu nước, hậu duệ tinh thần của những nhà lãnh đạo đã qua, như Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Tạ Thu Thâu, Nguyễn Tường Tam, Trương Tử Anh, Nguyễn Ngọc Huy… Có tranh ganh đua tự nhiên đảng Cộng sản sẽ phải giữ mình tiến bộ, trong sạch, không sa sút, hư hỏng do một mình một chiếu như lâu nay. Quần chúng sẽ sung sướng có khả năng lựa chọn qua lá phiếu tự do của mình những đại biểu mà mình tín nhiệm. Sinh hoạt nghị trường sẽ sôi nổi khởi sắc, khác hẳn sự xuôi chiều tẻ nhạt hiện nay.

Để minh họa cho nền dân chủ đa nguyên tiến bộ, Nguyễn Kiến Giang đưa ra hình ảnh của một xe ô tô hiện đại có bốn bánh. Bánh thứ nhất là bánh “Kinh tế thị trường“, không cần cái đuôi tư bản hay vô sản, hay xã hội chủ nghĩa. Bánh thứ hai là bánh “Xã hội công dân“, cho phép người công dân thực thi mọi quyền tự do trong xã hội khai phóng. Bánh thứ ba là bánh “Nhà nước pháp quyền“, trong đó pháp luật được mọi người tôn trọng nghiêm minh, bình đẳng. Bánh thứ tư là bánh “ Chính trị dân chủ “ biểu hiện ở nề nếp dân chủ trong quản lý, cai trị xã hội của bộ máy nhà nước, nghị viện, các chính đảng, tổ chức quần chúng, có phối hợp nhịp nhàng, hài hòa, hợp tác và đấu tranh, lấy cuộc sống an lành, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc của toàn dân làm mục tiêu ganh đua chung.

Tôi rất tán đồng với ý kiến sâu sắc, có hình ảnh minh họa dễ hiểu dễ nhớ của nhà nghiên cứu thật sự có tâm và có tầm Nguyễn Kiến Giang.

Đây là cỗ xe Peugeot, xe Ford, hay xe Mercedes chính trị của Việt Nam mang nhãn NKG, xin trình làng nhân dịp đang thảo luận về hiến pháp mới, trong khi tôi được tin là anh Giang vì bị đối xử tàn nhẫn trong lao tù nên đang bị xuống sức cả về thể lực và trí tuệ, nhưng ý chí không hề suy giảm.

Tôi tin rằng anh sẽ chứng kiến sự chuyển biến tất yếu của đất nước ta từ hệ thống độc đảng hủ lậu tệ hại sang hệ thống đa đảng tiến tiến của thời đại mới, tiến nhanh, tiến vững trên cỗ xe 4 bánh NKG, giữa niềm vui vô hạn dâng trào của toàn dân, mở ra Kỷ nguyên Dân chủ Tự do của nước Việt Nam ta.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Thả tù chính trị, Việt nam chuyển tới Mỹ thông điệp gì?

02:15 |
LS Lê Công Định tại tòa
Việc Luật sư Lê Công Định được trả tự do trước thời hạn hơn 1 năm đã được hoan nghênh trong nhiều giới.

Ông Định ra tù sáng thứ Tư 6/2 và hiện còn phải chịu 3 năm quản chế tại địa phương.

Phản ứng trước sự kiện này, ông Lê Thăng Long, người cùng bị xét xử một đợt với ông Lê Công Định nhưng vì án nhẹ hơn nên được trả tự do năm ngoái, nói với BBC: "Tôi thực sự rất vui mừng trước sự trở về của anh Định".

"Tôi cho đây là tín hiệu rất tích cực trong quá trình đổi mới về chính trị của Việt Nam, nó cho thấy các tác động của cả từ bên trong lẫn bên ngoài, cũng như của những thay đổi trong môi trường chính trị toàn cầu và chính ngay trong nội bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam."

Ông Lê Thăng Long cũng cảnh báo LS Định rằng "cuộc đấu tranh vẫn còn tiếp tục, con đường phía trước chắc chắn còn nhiều khó khăn và rủi ro rất lớn".

Tuy nhiên, theo ông, sự đóng góp của ông Lê Công Định, người mà ông nhận xét là "rất trăn trở về bản Hiến pháp Việt Nam" ngay trong quá trình thu thập ý kiến đóng góp về sửa đổi Hiến pháp 92 là một điều tích cực.

"Tôi hy vọng và tin tưởng rằng đây là cơ hội cho anh Định đóng góp một cách công khai và hợp pháp cho đất nước."

Người còn ở trong tù

Trong khi đó, ông Trần Văn Huỳnh, cha của doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức, người cũng bị xét xử cùng đợt với các ông Định và Long những lãnh án tù nặng nhất 16 năm, nói: "Nghe tin mừng của Lê Công Định, tôi nghĩ ngay đến con tôi".

"Tôi hy vọng các tổ chức quốc tế và dư luận trong nước tiếp tục ủng hộ, vận động để các tù nhân lương tâm như con trai tôi sớm được trả tự do vì họ không làm gì có tội."

Trong phiên xử ngày 20/1/2010, bốn người là các ông Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và Trần Huỳnh Duy Thức đã nhận án tù nhiều năm vì tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, theo Điều 79 Bộ Luật Hình sự.

Ông Lê Công Định, theo cáo trạng, còn là đảng viên Đảng Dân chủ Việt Nam vốn không được phép hoạt động.

Đảng này, ngay sau khi ông ra tù, đã ra thông cáo cho hay LS Lê Công Định là Tổng Thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam từ ngày 1/6/2009.

    "Việc trả tự do cho hai ông Lê Công Định và Nguyễn Quốc Quân khiến người ta nghĩ rằng Việt Nam đang mong muốn điều gì đó từ phía Mỹ." - GS Carl Thayer

"Đảng Dân chủ Việt Nam yêu cầu nhà nước Việt Nam tiếp tục trả tự do cho các đảng viên và cộng sự của Đảng Dân chủ còn đang bị giam cầm trái phép. Trả tự do cho các tù nhân chính trị chính là hành động thiết thực để thể hiện tinh thần thật tâm hòa hợp toàn dân tộc, tôn trọng sự thật và công lý, quyết tâm xây dựng nhà nước pháp quyền."

Thông cáo cũng viết rằng "đối thoại trên tinh thần xây dựng là cách tốt nhất nên có nhằm thay đổi tích cực hình ảnh của Việt Nam, hướng đến lợi ích chung của quốc gia và dân tộc".

Phản ứng quốc tế

Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên lên tiếng về sự kiện LS Lê Công Định được trả tự do.

Phát ngôn viên cho Đại sứ quán Mỹ, Christopher Hodges, được hãng thông tấn AP dẫn lời nói: "Chúng tôi hoan nghênh quyết định của chính quyền Việt Nam trả tự do nhân đạo cho LS Lê Công Định".

"Nhân quyền, kể cả việc kêu gọi thả tất cả các tù chính trị, tiếp tục là một phần quan trọng trong quan hệ song phương của chúng tôi với Việt Nam."

Tuần trước, Việt Nam cũng đã thả ông Nguyễn Quốc Quân, đảng viên Việt Tân, người bị bắt từ tháng Tư năm ngoái.

Bình luận về hai vụ thả người gây chú ý này, Giáo sư Carl Thayer từ Canberra, nói với BBC rằng tình hình nhân quyền ở Việt Nam xấu đi trông thấy kể từ sau Đại hội Đảng XI năm 2011, nên các động thái mới dường như "đi ngược lại những gì đang xảy ra".

Ông Thayer cho rằng quyết định thả hai ông Quân và Định có thể không phải vì lý do nhân đạo như giải thích mà là "một quyết định chính trị".

"Năm nay, Việt Nam đặt mục tiêu đàm phán quan hệ đối tác chiến lược với một số quốc gia chủ chốt. Hồi tháng 1/2013, thỏa thuận về quan hệ đối tác chiến lược đã được thiết lập với Ý."

Ông Nguyễn Quốc Quân trở về Mỹ

Việt Nam cũng vừa trả tự do cho đảng viên Việt Tân Nguyễn Quốc Quân

Tuy nhiên, theo GS Thayer, quá trình đàm phán với Hoa Kỳ bị đình trệ hơn một năm nay chính vì chủ đề nhân quyền và đối thoại nhân quyền Mỹ-Việt thường niên 2012 cũng không thực hiện được.

"Việc trả tự do cho hai ông Định và Quân khiến người ta nghĩ rằng Việt Nam đang mong muốn điều gì đó từ phía Mỹ," ông Thayer nhận định.

Tiếp tục áp lực

GS Thayer nói với BBC: "Có lẽ họ muốn tái khởi động tiến trình đàm phán quan hệ đối tác chiến lược. Trong quá khứ Việt Nam đã vận động để gỡ bỏ cấm vận vũ khí và công nghệ quốc phòng cho Việt Nam".

"Việt Nam cũng thúc đẩy để Washington chuẩn thuận các chuyến thăm cao cấp nhất tới Hà Nội; và có lẽ Việt Nam cũng đang muốn thử lòng tân Ngoại trưởng John Kerry xem ông ta nghĩ gì về việc này."

Hiện các quan chức Đảng CSVN, ông Thayer cho biết, đang xem xét lại Nghị quyết 8 của Ban Chấp hành Trung ương sau 10 năm thực hiện.

Nghị quyết này, vốn chấm dứt việc phân loại các cường quốc thành hai phe 'thân Việt Nam' và 'chống Việt Nam', đã mở đường để cải thiện quan hệ quốc phòng với Mỹ.

Đặt vào bối cảnh này, ông Thayer nói việc thả hai nhân vật đấu tranh dân chủ mới đây cho thấy Hà Nội có thể đang muốn hợp tác với Washington để xua tan một số quan ngại về nhân quyền.

Trong khi đó, một số tổ chức nhân quyền quốc tế như Human Rights Watch nhận định rằng áp lực lên chính quyền Việt Nam dường như đã có tác dụng.

"Giới ngoại giao ở Việt Nam và quan chức LHQ cần đẩy mạnh nỗ lực lên tiếng về các vụ nhân quyền như trường hợp ông Lê Công Định," một phát ngôn viên Human Right Watch nói hôm thứ Năm 7/2.

(BBC)

Chuyện Hiến Pháp

16:30 |
Khi trang mạng “Cùng Viết Hiến Pháp” của GS Châu và GS Sơn ra đời, tôi cũng không ý thức được giá trị của trang web này ngay với cá nhân mình. Lúc đầu thì theo thói quen, thấy trang web có giá trị thì hì hụi đi phát tán. Sau thì tranh thủ những lúc trong máu không có cồn (đang mùa tất niên hội hè mien man) đọc các bài viết trên đấy.

Bỗng giật mình nhận ra, lần duy nhất trong đời mà tôi học một thứ gọi là văn bản luật, là cái hôm thi bằng lái xe.

Còn thì không thể nhớ ra dù chỉ một lần được học, hay giảng, hoặc thậm chí là được giới thiệu về hiến pháp trên lớp học.

Thậm chí, cũng chưa một lần tự mình tìm cái bản hiến pháp của nước mình về rồi tự đọc.

Bỗng ngộ ra rằng, cái gì mà không có thực chất, chỉ là hình thức, thì sự tồn tại của nó có cũng như không.

Bỗng vì lý do gì đó, hiến pháp của nước mình bất ngờ không còn tồn tại, thì mọi thứ vẫn hoạt động bình thường, chả có gì suy chuyển.

Thế thì tức là nếu làm ngược lại, sửa nó cho thật hay, thì cũng chẳng suy chuyển được cái gì.

Chuyện Hiến pháp tự nhiên tréo nghoe ra như vậy, đành phải ôm sách về nhà tự nghiên cứu.

Không rõ từ nguyên chữ Hiến-Pháp trong tiếng Việt là gì, nhưng rất may là sách có nói chữ Constitution, là do chữ Constitutio của chữ Latin, đi qua tiếng Pháp, rồi mà thành. Chữ này có nghĩa là quy tắc (regulations and orders).

Về lý thuyết, ở một số nước, Hiến pháp là bộ luật gốc, từ đó tạo sinh ra nhà nước, mô hình và cách thức vận hành cái nhà nước ấy. Ở những nước này Hiến pháp là tối quan trọng.

Nhưng lại có những nước mà ở đó nhà nước, nếu thích, có thể tự soạn và ban hành hiến pháp bất cứ lúc nào. Tất nhiên là ở những nước như vậy, Hiến pháp không có vai trò gì cho lắm.

Hiến pháp không tự nhiên sinh ra, mà phải có ai đó viết. Hiến Pháp cũng không phải là một văn bản tập hợp các quy tắc gốc vô hồn, mà đằng sau nó phải có tinh thần, có chủ thuyết của những người lập ra hiến pháp. Hay nói theo kiểu Steve Jobs, Hiến Pháp là một sản phẩm mà đằng sau nó có triết lý (philosophy) của người làm ra nó. Philosophy có gốc là hai chữ Hy Lạp: philein và sophian. Chữ philein nghĩa là ước vọng, sophian là cái chân-thiện. Hiến-Pháp tốt đương nhiên phải có đạo lý sâu rộng ở phía sau văn bản ngữ nghĩa.

Bản Hiến pháp được coi là mẫu mực của thế giới, cũng đồng thời là hiến pháp thành văn đầu tiên, là hiến pháp Hoa Kỳ. Bản hiến pháp này cũng ngắn nhất khi chỉ có 7 điều và 27 tu chính án (7 điều và 27 điểm sửa chữa bổ sung). Bản Hiến Pháp này ra đời năm 1787 và tồn tại đến tận bây giờ.

Chủ thuyết của Hiến pháp Hoa kỳ, như GS Wendy N Duong tóm tắt ở bài viết “Tổng quan về Hiến pháp Hoa Kì” rất đơn giản: (i) phân quyền lực (mối quan hệ giữa ba nhánh của chính phủ), (ii) chủ thuyết liên bang (mối quan hệ giữa chính phủ quốc gia trung ương và chính phủ các tiểu bang), (iii) cơ chế toà án bảo hiến ( cơ chế mà qua đó Hiến pháp được hiểu, áp dụng và tôn trọng), và (iv) Bản Tuyên ngôn Quyền (nói lên mối quan hệ giữa chính phủ và cá nhân).

Về chủ thuyết phân ba nhánh của Hiến Pháp Hoa Kỳ, nếu diễn giải nôm na thì: Lập Pháp là Quốc Hội gồm hai viện Thượng và Hạ không được phép hoạt động đơn phương. Hành pháp là Tổng thống. Tư Pháp là hệ thống tòa án liên bang. Trong đó có Tòa án tối cao liên bang, do chính Hiến Pháp tạo sinh ra để diễn giải và thực hành Hiến Pháp (vai trò như tòa án bảo vệ hiến pháp).

Nhân đây, cũng xin phép nhắc một chút về mốc thời gian: Năm 1787 là năm ở Mỹ bản Hiến pháp Mỹ ra đời, thì ở vùng đất gọi là VN bây giờ, đang là lúc Nguyễn Huệ đang đánh nam dẹp bắc loạn lạc binh đao. Năm 1787 là năm Nguyễn Huệ kéo quân về đánh Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn. Nước Việt Nam ngày nay, lúc đó chưa hình thành (tiền thân của nước Việt Nam hiện đại, đến năm 1802 mới xuất hiện).

Còn Hiến Pháp của Việt Nam đang được góp ý sửa đổi, ra đời năm 1992, chủ thuyết là Nhà nước thống nhất (không phân chia quyền lực). Điều này ghi rõ trong Điều 2 của Hiến pháp.

Mặc dù nước ta có tới mấy ngàn năm văn hiến, nhưng nhìn vào thời điểm Hiến pháp Mỹ ra đời và so với lịch sử cận đại của Việt Nam, lại có thể thấy rằng chúng ta sinh sau đẻ muộn hơn nhiều.

Cho nên việc học hỏi cách người Mỹ làm ra bản Hiến pháp của họ là một việc nên làm và chả có gì phải xấu hổ khi bắt chước họ cái cách làm ra hiến pháp.

Việc bắt chước này, tất nhiên không phải là sự bắt chước máy móc, hoặc nhắm mắt sao chép hiến pháp Hoa kỳ. Bởi chính Alexander Hamilton, một trong những người tham gia kiến tạo bản Hiến Pháp Hoa Kỳ, có nói rằng: “Tôi đồng ý với Montesquieu rằng mỗi chính quyền cần phù hợp với một quốc gia, như mỗi cái áo phù hợp với một cá nhân. Điều kỳ diệu ở Philadelphia có thể sẽ là điều tồi tệ ở Paris và trở nên lố bịch ở Saint Petersburg”.

Montesquieu là cha đẻ của tam quyền phân lập, là chủ thuyết đằng sau Hiến Pháp Mỹ. “Điều kỳ diệu ở Philadelphia” là cách các sử gia Mỹ gọi Hiến pháp Mỹ, do Hội nghị lập hiến diễn ra ở Philadenphia và kết quả của hội nghị này chính là bản Hiến pháp Mỹ.

Nước Mỹ giành độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Trong những năm đầu, chính quyền non trẻ của Mỹ hoạt động dựa vào sự hợp tác của các bang đầu tiên tham gia cách mạng, dưới một thỏa ước chung gọi là Articles of Confederation (Điều khoản hợp bang). Cái điều khoản hợp bang này chính là hiến pháp đầu tiên của Mỹ (được phê duyệt năm 1781).

Lúc này nước Mỹ rất yếu, nghèo nàn, chính phủ kiệt quệ, không có hành pháp, không tòa án tối cao, không quân đội liên bang mà chỉ có quân đội tiểu bang, uy tín quốc tế bằng số không. Kinh tế suy thoái lao dốc, tiền tệ lạm phát, loạn lạc bên trong, ngoại bang đe dọa bên ngoài.

Nhưng những nhà lãnh đạo nước Mỹ lúc đó không yếu ớt. Một vài trong số họ, vốn là công thần lập quốc, thấy cần phải có một Hiến pháp mới để thay đổi nhà nước Mỹ và thay đổi tương lai của nước Mỹ. Họ đã vận động tổ chức hội nghị lập hiến. Từ hội nghị lập hiến này (1787) đã cho ra đời bản Hiến pháp Mỹ. Bản Hiến pháp Mỹ này đã làm thay đổi nước Mỹ, biến nước Mỹ thành siêu cường, và cũng một phần nào đó cũng đã góp phần làm thay đổi cả thế giới.

Như vậy, việc sửa đổi hiến pháp đã một việc cực kỳ quan trọng đối với vận mệnh của nước Mỹ.

Năm 1787, tức là khá lâu sau khi Mỹ giành độc lập, mới có Hội nghị lập hiến này. Hội nghị diễn ra tập trung. Các đại biểu của các tiểu bang phải tự đi xe ngựa về Philadenphia, tự ăn tự ngủ suốt mấy tháng liền trong thời gian họp.

Có 74 đại biểu được triệu tập nhưng chỉ có 55 người có mặt. Trong số 55 người này chỉ có 39 người cuối cùng ký vào bản Hiến pháp mới.

Để bắt đầu, họ bầu ra một người rất có uy tín làm Chủ tịch hội đồng lập hiến: đó là tướng George Washington, vị tổng tư lệnh trong cuộc chiến với đế quốc Anh để dành độc lập cho Hoa Kỳ hơn 10 năm trước đấy. Bộ óc soạn thảo Hiến pháp Mỹ trong hội nghị lập hiến, và sau đó là các tu chính án (được biết với tên Tuyên ngôn nhân quyền) là của một ngôi sao trẻ 36 tuổi tên là James Madison. Ông này sau cũng làm tổng thống Mỹ (tổng thống thứ 4).

Như vậy, có thể học được một điều, là Hiến pháp cần một hội nghị lập hiến nghiêm túc, có người đứng đầu là một cá nhân có uy tín. Còn bộ óc soạn thảo, trong quá trình làm việc, sẽ tự xuất hiện.

Hội nghị Lập hiến họp kín, có các thư ký, có các chủ tọa, và thực tế là cãi nhau như mổ bò từ suốt 25 tháng 5 đến tận 24 tháng 7 mới có Đại Thỏa Hiệp (Great Compromise) chọn được một phương án chủ đạo từ các phương án (Virginia Plan, New Jersey Plan). Virginia Plan chính là một phiên bản sơ khởi quan trọng để soạn thảo Hiến pháp Mỹ. Đằng sau Virginia Plan là chủ thuyết dựa vào tư tưởng của các triết gia và chính trị gia: Montesquieu, Locked và Coke (hai tác giả đầu đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam).

Điều thứ hai có thể học hỏi ở đây, là rất cần các debate trực diện, mệt mỏi, trí tuệ và tốn thời gian. Đồng thời cũng cần các version khác nhau của Hiến pháp, với các chủ thuyết khác nhau, để các phe tranh cãi dùng để biện luận. Hiến pháo 1992 và dự thảo sửa đổi cũng có thể sẽ là một Plan tốt. Hiến pháp mà nhân dân “cùng viết hiến pháp” đề xuất, cũng là một Plan tốt nữa.

Điều thứ ba có thể học hỏi, là cuối cùng phải có một cái Đại Thỏa Hiệp, chốt lại các điểm quan trọng nhất, có giá trị vững bền nhất, được đồng thuận cao nhất. Còn nếu ai cũng chỉ thấy mình đúng, cái mình viết ra, cái mình đề xuất là xuất sắc nhất, thì chắc chắn bản Hiến pháp có ra đời thì cũng rất ít giá trị.

Đến ngày 24 tháng 7, một tiểu ban gồm 5 đại biểu được giao cho viết soạn thảo Hiến pháp chi tiết.

Đến mùng 6 tháng 8 năm 1787 thì viết xong. Từ lúc đó đến mùng 10 tháng 9 các vị lại cãi nhau như mổ bò, nhưng lúc này là trên từng điều khoản.

Như vậy việc soạn thảo hiến pháp Mỹ, do các bộ óc lớn, am hiểu sâu sắc về chính trị, triết và luật, rất là gian nan như vậy. Trong đó có James Madison, lúc này mới có 36 tuổi, và trước khi tham gia hội nghị lập hiến đã bỏ vô cùng nhiều thời gian để nghiên cứu các trước tác từ cổ chí kim tính đến lúc đó.

Sau khi có bản Hiến pháp cuối cùng và được hội nghị lập hiến ký kết, bản hiến pháp này còn phải được các tiểu bang thông qua bằng cách bỏ phiếu ở từng tiểu bang. Việc này cũng rất gian nan do bị nhiều thế lực chống đối kịch liệt.
James Madison, Alexander Hamilton và Jay viết một loạt bài báo, nay được biết với tên Federalist Papers (Luận cương Người liên bang) để bẻ hết các lập luận của phe chống-liên bang. Madison cũng hiểu là cần các tu chính án thêm vào (về nhân quyền) thì các tiểu bang mới chịu thông qua, cho nên ông vận động ác liệt cho 12 tu chính án đầu tiên. Nay 12 tu chính án này được biết đến với tên Bill of Rights (Tuyên ngôn Nhân quyền).

Đến 30 tháng 4 năm 1789 thì Hoa Kỳ có tổng thống đầu tiên, chính là George Washington.

Với Federalist Papers, quá trình soạn thảo hiến pháp Mỹ đã vô tình đẻ ra một tác phẩm được coi là chủ thuyết của chính quyền liên bang (như nhận xét của John Stuart Mill) và là cuốn sách cho mọi chính khách của bất cứ nước nào (nhận xét của Alexis Tocqueville) và ngày nay được coi là cuốn sách lớn ngang với Cộng Hòa (Plato), Chính trị luận (Aristotle) và Leviathan (Hobbles). (Ngoại trừ Leviathan, và Federalist Papers, các cuốn sách trong paragraph này đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam).

Các cuộc tranh luận cãi vã đều được thư ký hội nghị và đặc biệt là James Madison ngồi ghi chép kỹ lưỡng. Những người tham gia soạn thảo Hiến Pháp của các nước sau này đều phải tham khảo các ghi chép này, cũng như đọc Luận cương Liên Bang và bản gốc (chưa sửa đổi) của Hiến Pháp Mỹ. Các nhà soạn thảo Hiến pháp của Việt Nam có lẽ cũng không nên làm những người ngoại lệ. Tài liệu về Hội nghị lập hiến Hoa kỳ có rất nhiều. Bản tiếng Việt có thể tham khảo là cuốn “Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào” của Nguyễn Cảnh Bình. Đây là điều thứ tư cần học hỏi.

Thế rồi, dù có học hỏi đến thế nào, thì câu hỏi cũng vẫn sẽ là“Điều kỳ diệu ở Philadelphia” trở thành “Điều kỳ diệu ở Hà Nội” được không, sẽ tùy thuộc vào tầm nhìn, tư tưởng và sự cởi mở đầu óc của những người tham gia lập hiến.

Ví dụ như chuyện Đảng. Hiến pháp Mỹ không đề cập gì tới đa nguyên hay đảng phái gì. Các chính đảng ở Hoa Kỳ hiện nay đều sinh sau đẻ muộn so với Hiến pháp Mỹ.

Ví dụ như, phải chăng chủ thuyết nhà nước thống nhất (điều 2) và vai trò của đảng cầm quyền (điều 4) của Hiến pháp Việt Nam vẫn có thể có Great Compromise với Hiến pháp tam quyền phân lập của Hoa Kỳ? Phải chăng vẫn có cách để một Hiến pháp do nhà nước tạo ra, mà sau này hiến pháp ấy vẫn có thể tạo sinh vận hành ngược được nhà nước?

+ Phải chăng Hiến pháp sửa đổi sẽ mở ra cách nào đưa TW Đảng thành Thượng viện, nơi các Thượng nghị sỹ là TW Ủy viên đến từ địa phương và nội các. Và Tổng bí thư làm chủ tịch thượng viện. Ở đó các Thượng nghị sỹ – TW ủy viên có nhiệm kỳ 6 năm, được bầu 2 năm một lần, một phần ba được bầu lại, hai phần ba lưu nhiệm. Còn Quốc hội hiện nay trở thành Hạ viện, hai năm thay đồng loạt một lần. Sẽ đến lúc nào đó, các thượng nghị sỹ có thể đến từ một đảng bất kỳ, hoặc không từ đảng phái nào, mà hiến pháp sẽ không cần phải sửa đổi. Hay lúc đó chủ tịch thượng viện không nhất thiết phải là tổng bí thư nữa. (Xem Hiến pháp Hoa Kỳ kèm chú thích).
+ Phải chăng Hiến pháp sửa đổi sẽ đặt Chủ tịch nước thành người đứng đầu tòa án tối cao, có 7 thẩm phán tối cao do mình hoặc các chủ tịch nước nhiệm kỳ trước bổ nhiệm, giống như tổng thống mỹ bổ nhiệm thẩm phán tối cao và các vị này không về hưu. Để tòa án tối cao này làm tòa bảo hiến, diễn giải và thực thi hiến pháp. (Xem Hiến pháp Hoa Kỳ kèm chú thích).
Tất cả những điều này không một cá nhân, một nhóm người nào có thể tự nghĩ ra được. Vẫn phải cần một hội nghị lập hiến chính thống, nghiêm túc, mà ở đó những nhà lập hiến không chỉ ngồi viết ra một bản hiến pháp lời hay ý đẹp, mà còn phải viết để làm sao ngay khi nó được thông qua, nó sẽ lập tức đi vào cuộc sống, thực sự vận hành nhà nước và xã hội, và tất nhiên là nó sẽ tồn tại cả vài trăm năm mà rất ít cần sửa đổi.

5 xu

(Blog 5xu)

Ba câu hỏi dành cho nguyên Trưởng ban Biên giới Chính Phủ

15:59 |

 
Không thể "làm ngơ" với mặt trận truyền thông chứng lý Biển Đông (Bài 1)

“Thành lập một bảo tàng số tập hợp chứng lý về Biển Đông là nhu cầu tất yếu, vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện nay”- Đó là khẳng định của TS Trần Công Trục, Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ khi đề xuất công bố ý tưởng này với Infonet. (http://infonet.vn/Thoi-su/Khong-the-lam-ngo-voi-mat-tran-truyen-thong-chung-ly-Bien-Dong-Bai-1/57860.info)

- 5 lý do cần có kho tư liệu số về chứng lý Biển Đông (bài 2)

Như Infonet đã đưa tin, chúng ta không thể làm ngơ với mặt trận truyền thông chứng lý Biển Đông, từ thực tiễn và yêu cầu của cuộc đấu tranh chủ quyền, TS Trần Công Trục tiếp tục nêu ra 5 lý do cần có Bảo tàng số về chứng lý Biển Đông. (http://infonet.vn/Thoi-su/5-ly-do-can-co-kho-tu-lieu-so-ve-chung-ly-Bien-Dong-bai-2/58095.info)
 
 

Quyền chọn lựa và sự thịnh vượng

13:08 |
Kết thúc loạt bài phân tích các yếu tố cần thiết cho sự thịnh vượng, kỳ này Diễn đàn Kinh tế sẽ trình bày một yếu tố then chốt là quyền chọn lựa.


(AFP photo) Ảnh minh họa một nhà đầu tư trẻ Nam Hàn đang giao dịch qua điện thọai trên sàn chứng khoán.

Quyền chọn lựa

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, như ông đã trình bày từ đầu tháng trước về các yếu tố đóng góp cho sự thịnh vượng của một quốc gia, rằng chúng ta có thể sẽ phải nói đến Tết, Nay đã là cận Tết, nghĩa là mình đã có thể rút tỉa kết luận về loạt bài phân tích này. Tổng kết lại, ông cho rằng đâu là yếu tố quan trọng nhất có thể tạo ra sự phồn thịnh cho người dân?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa là qua bốn chương trình liền, chúng ta đã nói đến nhiều yếu tố khác nhau, bây giờ nếu tổng kết thì tôi nghĩ rằng quyền tự do chọn lựa là động lực then chốt nhất. Tôi xin khởi đầu bằng thí dụ đơn giản để thính giả của chúng ta có thể mường tượng ra điều ấy.

Trước hết là vì nhu cầu giải quyết một sự khan hiếm của mình, ai ai cũng phải chọn lựa. Chẳng hạn như ta không thể vừa đánh cá, vừa cầy ruộng lại vừa xây nhà nên phải chọn một việc gì đó mình cho là ưu tiên rồi giải quyết những nhu cầu còn lại qua việc trao đổi mua bán.

Khi trao đổi mua bán thì ai cũng muốn được tối đa và mất tối thiểu, nên phải tìm nơi cung cấp điều mình thiếu rồi ngã giá với nhau. Khi có nhiều nguồn cung cấp khác nhau thì mình có quyền chọn lựa được mở rộng và chẳng ai lại có cái thế độc quyền để bắt chẹt. Tiến trình chọn lựa hay ngã giá sau khi đó là tìm ra giải pháp có thể thoả mãn cả đôi bên và rốt cuộc thì ta chấp nhận là thà mình được ít hơn một chút còn hơn là mất cơ hội giải quyết một nhu cầu khan hiếm. Khi đã thỏa mãn nhu cầu đó rồi thì mình có điều kiện giải quyết một việc khác. Cả triệu lần thỏa thuận hay thỏa hiệp như vậy sẽ tạo ra sự thịnh vượng chung cho mọi người vì ai ai cũng có lợi.

Vũ Hoàng: Nếu chúng tôi hiểu không lầm thí dụ vừa rồi thì thứ nhất là càng có nhiều người mua bán và thậm chí cạnh tranh với nhau thì ta càng có nhiều chọn lựa, chứ không bị kẹt hoặc ép giá vì tình trạng độc quyền. Thứ hai là trong việc thương thảo hay ngã giá, yếu tố quyết định chính là giá cả mà đôi bên có thể thỏa thuận. Thưa ông, có phải là như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng đúng như thế. Hãy lấy một thí dụ kế tiếp là ông A và bà B có nhu cầu trao đổi mua bán và ngã giá với nhau rồi tìm ra sự đồng thuận là cái giá phải chăng cho cả hai, để họ còn đi làm việc khác. Nôm na là quan hệ A-B dựa trên một cái giá tối hảo nào đó cho quyền lợi của cả hai, theo lối dân ta gọi là "thuận mua vừa bán".

Bây giờ một người thứ ba lại nhảy vào giữa quan hệ đó, tôi xin gọi là đồng chí X hay nhà nước, và ấn định ra một cái giá khác vì một lý do nào đó. Đồng chí X này áp đặt một cái giá và giới hạn quyền chọn lựa của ông A và bà B nên làm kinh tế nghèo đi vì ít cơ hội chọn lựa hơn. Nói vắn tắt thì việc nhà nước can thiệp có thể cản trở sự thịnh vượng kinh tế vì thu hẹp quyền chọn lựa, hoặc tạo ra tình trạng cạnh tranh thiếu bình đẳng và thậm chí nạn độc quyền.

Vai trò của nhà nước

000_Hkg8245986-250.jpg
Một tiệm bán quần áo ở Hà Nội, ảnh minh họa. AFP

Vũ Hoàng: Nhưng mình vẫn có thể thấy ra vai trò cần thiết của nhà nước trong sinh hoạt kinh tế quốc dân chứ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa đúng thế, nhà nước có một vai trò cực kỳ quan trọng là bảo đảm cho mọi người được quyền bình đẳng trong sự chọn lựa và không ai có thể lấn át người khác. Việc tạo ra sân chơi bình đẳng với một hệ thống pháp quyền công minh, tức là công khai và minh bạch, là một yếu tố của thịnh vượng. Nhà nước là cơ chế cần thiết để bảo vệ sự bình đẳng ấy qua việc áp dụng luật lệ một cách vô tư. Khi nhà nước lại can thiệp vào quan hệ A-B đó với điều kiện khác biệt, như về giá cả chẳng hạn, thì có thể tạo ra sự thiên lệch bất lợi cho kinh tế.

Vũ Hoàng: Ta vẫn có thể nghĩ đến hoàn cảnh của các nước đang phát triển, tức là còn nghèo, nên phải áp dụng một số chính sách phát triển để tập trung nguồn lực của quốc gia vào một số khu vực ưu tiên hầu tạo ra một lực đẩy ban đầu. Những thí dụ mà ai cũng biết là trường hợp Nhật Bản hay Nam Hàn. Chính quyền các nước này cũng có đồng chí X can thiệp vào sinh hoạt kinh tế và yểm trợ các tập đoàn kinh doanh về công nghiệp hay tài chính ngân hàng, nhờ vậy mà họ đạt mức tăng trưởng rất cao trong giai đoạn công nghiệp hoá. Ngày nay, các chính quyền như Trung Quốc hay Việt Nam cũng có thể noi theo tấm gương đó mà xây dựng khu vực kinh tế nhà nước như bộ phận chủ lực cho công cuộc phát triển. Ông trả lời sao về sự phản biện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trước hết, trong giai đoạn công nghiệp hóa, quốc gia có thể nghiên cứu và áp dụng một số chính sách phát triển, tức là đề ra những ưu tiên cần được yểm trợ và tạo ra một sân chơi có thể là thiếu bình đẳng vì một số khu vực được nâng đỡ. Nhưng kinh nghiệm Nhật Bản và Nam Hàn cho thấy, sau vài thập niên tăng trưởng ngoạn mục thì chính sách ấy dẫn đến cái nạn chúng ta đã từng nói tới là "ỷ thế làm liều" của một số doanh nghiệp được nâng đỡ, với kết quả là bị khủng hoảng kinh tế. Thứ hai, khi nhà nước can thiệp và nâng đỡ như vậy thì còn gây ra bất công và nhất là tệ nạn tham nhũng khi có sự cấu kết giữa chính trị và kinh doanh. Xin hãy nói về Nam Hàn là một xứ mà Việt Nam có thể coi là gương mẫu muốn noi theo.

Vũ Hoàng: Quả thật vậy, thính giả của chúng ta muốn biết về trường hợp Nam Hàn vì ảnh hưởng sâu rộng của xứ này về nhiều mặt trong xã hội Việt Nam, từ kinh tế, kinh doanh, tới điện ảnh hay ca nhạc.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Từ căn bản vào sáu chục năm trước là khi bán đảo Triều Tiên bị phân ranh sau đình chiến 1953, thì Nam Hàn chỉ là xứ nông nghiệp có rất ít tài nguyên khoáng sản và lại thiếu nhiều cơ sở công nghiệp nặng mà Nhật đã xây dựng trước đó tại Bắc Hàn.

Thế rồi từ thập niên 60, Chính quyền Nam Hàn có chính sách tuần tự công nghiệp hóa với các tập đoàn họ gọi là "chaebols", hay tài phiệt, được nhà nước nâng đỡ để thi hành chính sách này dù các cơ sở ấy là của tư nhân chứ không là quốc doanh như tại Trung Quốc và Việt Nam. Nhờ đó, từ 1960 đến 1980, xứ này đạt tốc độ tăng trưởng ngoạn mục là 12%, tức là còn cao hơn 9-10% của Trung Quốc sau này. Và nhờ đó, Nam Hàn đã công nghiệp hoá và thịnh vượng rất nhanh so với xứ Bắc Hàn lụn bại, rồi Nam Hàn trở thành một nước xuất khẩu nền văn hoá kinh doanh tiêu biểu đã tạo ra phép lạ kinh tế Đông Á. Quần chúng thì có thể say mê phim bộ hay nghệ sĩ Đại Hàn, hoặc một tay múa may mà gây chấn động thế giới về phong cách Gangnam, chứ doanh gia thì phục các tập đoàn Nam Hàn đã vượt Nhật Bản và ai để ý tới chuyện quốc tế còn thấy người dân gốc Nam Hàn đang cầm đầu Liên Hiệp Quốc và Ngân hàng Thế giới.

Mối liên hệ chính trị - kinh tế

000_Hkg7748046-250.jpg
Công nhân kết hoa cờ Đảng và cờ nước trước lễ Quốc Khánh 02/9/2012. AFP

Vũ Hoàng: Ông hay nhìn ra nhiều ý nghĩa bất ngờ của thời ự hàng ngày nên nêu lên một số thí dụ đáng cho ra suy ngẫm. Nghĩa là Nam Hàn có thể là tấm gương sáng nhưng không ở chiến lược kinh tế thời xưa mà còn ở nhiều địa hạt khác.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Ta nên nhìn lại kinh nghiệm của họ. Thứ nhất là dù bản thân nhà độc tài thời đó là Tổng thống Phác Chính Hy là người liêm khiết và đã công nghiệp hóa xứ sở, chính sách ấy vẫn gây ra tham nhũng và ưu thế của các chaebols Nam Hàn lại dẫn tới khủng hoảng vào năm 1998.

Chính là vụ khủng hoảng mới khiến Nam Hàn giảm thiểu chứ không tăng cường sự can thiệp của nhà nước và sau vụ khủng hoảng, chủ tịch sáng lập tập đoàn Dae Woo hay Đại Vũ bị án tù vì tội tham ô. Kết quả là Nam Hàn cải tổ cơ cấu kinh tế, các tập đoàn tài phiệt cũng thay đổi chiến lược kinh doanh. Trong khi ấy, môi trường quốc tế cũng đã thay đổi theo tinh thần mua bán tự do của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO chứ không cho nhà nước chọn lựa và nâng đỡ thành phần kinh tế này hay khu vực sản xuất khác.

Điều quan trọng nhất mà Việt Nam không nhìn ra là việc Nam Hàn đã cải tổ về chính trị cách nay đúng 20 năm để thành một quốc gia dân chủ hạng nhất thế giới. Nhờ thể chế dân chủ xứ này đã có thể chuyển hướng cải cách và cũng giải trừ được tham nhũng. Một cựu Tổng thống của họ đã tự tử năm 2009 khi bị đàn hặc về tội gia đình nhận tiền hối lộ của tập đoàn Daewoo.

Các trường hợp lãnh tụ bị ra toà hay vào tù như Tổng thống Trần Thủy Biển của Đài Loan hay Gloria Macapagal-Arroyo của Philippines không xảy ra cho đồng chí X của một nước độc tài. Các quốc gia đó đã phát triển mạnh hơn và giàu hơn Việt Nam không chỉ vì áp dụng chiến lược kinh tế đúng đắn dù mỗi nước lại có một chiến lược thích hợp với hoàn cảnh của mình. Họ trở thành một xứ giàu mạnh và văn minh hơn vì có dân chủ và mở rộng quyền chọn lựa cho người dân về kinh tế lẫn chính trị.

Vũ Hoàng: Chúng ta đi tới đoạn kết khi cũng sửa soạn ăn Tết! Thưa ông, lời kết ở đây là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Ta trở về quan hệ của ông A và bà B với sự can dự của đồng chí X. Nếu đồng chí X này lại can thiệp theo chiều hướng nâng đỡ giả dụ như bà B vì lý do chính thức là kinh tế thì sự kỳ thị và lệch lạc đã xảy ra với hậu quả là làm cả xã hội nghèo đi. Nhưng tai hại hơn vậy là ai cũng muốn thành bà B để xây dựng quan hệ tốt với đồng chí X, tức là định chế hóa nạn tham nhũng và tư bản thân tộc, rồi dù cho cơ sở của bà B có thể phá sản thì vẫn cứ tồn tại, nhờ tài nguyên của nhà nước. Hậu quả là tham nhũng và bất công làm xứ sở khó phát triển và người dân không thể làm giàu vì bị tước đoạt mất quyền chọn lựa, bản thân còn bị nhà nước làm nghèo đi. Quyền chọn lựa kinh tế vì vậy khởi đi từ quyền chọn lựa chính trị, từ thể chế dân chủ.

Hồi nãy, ta nhắc đến trường hợp Nam Hàn. Dân Việt có thể chẳng kém gì dân Đại Hàn, nhưng lãnh đạo thì quả là thua xa. Người ta cứ nói kinh tế là một khoa học u ám nhưng vào dịp Tết nhất thì mình cũng nên nói đến điều lạc quan và tích cực. Tôi thầm mong và cầu chúc là người Việt sẽ có quyền chọn lựa rộng mở để tìm ra sự thịnh vượng và trước đó, tìm ra con đường cải cách chính trị để có thể chuyển hóa trong hòa bình. Nghĩa là tìm ra một hệ thống lãnh đạo khác.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi và nhân dịp năm mới, mục Diễn đàn Kinh tế xin gửi tới quý thính giả lời chúc an khang và thịnh vượng.

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA

Nguyễn Hưng Quốc - Ông nào thắng nhân dân cũng bại

12:59 |

05.02.2013
Dựa trên biện chứng pháp của Mác, Mao Trạch Đông rất hay nói đến vấn đề mâu thuẫn. Chịu ảnh hưởng của Mao, giới lãnh đạo Việt Nam cũng hay nói đến chuyện mâu thuẫn. Có những mâu thuẫn có tính bản chất và có những mâu thuẫn chỉ có tính hiện tượng. Có những mâu thuẫn có tính đối kháng và có những mâu thuẫn có thể hòa giải được. Theo cái khung ấy, ngày trước, các bài học chính trị ở Việt Nam thường nhấn mạnh: mâu thuẫn đối kháng quan trọng nhất, trên phạm vi thế giới, là giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội; trong phạm vi quốc gia, là giữa “ta” và “địch”. “Địch”, chủ yếu là “ngụy” và “tư sản”, đặc biệt, “tư sản mại bản”.

Bây giờ, theo mô hình ấy, chúng ta thử tìm hiểu các mâu thuẫn chính yếu tại Việt Nam hiện nay là gì.

Trước hết, tạm gác qua một bên những mâu thuẫn ở tầm thế giới. Cái gọi là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không còn là một vấn đề nữa. Thứ nhất, Việt Nam cũng không còn là nước xã hội chủ nghĩa. Bằng chủ trương “kinh tế thị trường”, chính quyền Việt Nam đã thập thò bắt tay với chủ nghĩa tư bản từ lâu rồi. Thứ hai, sức sống và sức mạnh của chính quyền Việt Nam hiện nay chủ yếu được xây dựng nhờ chủ nghĩa tư bản: tư bản mang vốn vào Việt Nam, đầu tư ở Việt Nam, hơn nữa, chính các quốc gia theo chủ nghĩa tư bản đang và sẽ đóng vai trò tích cực trong việc cứu nguy Việt Nam trong cuộc đương đầu với người anh em xã hội chủ nghĩa láng giềng “bốn tốt” của mình.

Những chuyện ấy, ai cũng biết, nên khỏi cần bàn.

Chúng ta chỉ nhìn vào tình hình trong nước.

Mâu thuẫn chính hiện nay là gì? Ngày trước, giới lãnh đạo luôn luôn nhấn mạnh: Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Lâu nay, họ không lặp lại điều đó nữa. Lý do rất dễ hiểu: giới tư sản giàu và mạnh nhất ở Việt Nam hiện nay không ai khác hơn là những người đang cầm quyền. Nhưng khi cán bộ và đảng viên tự biến mình thành giai cấp tư sản mới, tách mình ra khỏi đại đa số quần chúng lao động nhem nhuốc nghèo khổ thì cái gọi là mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản ấy lại biến thành mâu thuẫn giữa đảng và dân chúng. Dĩ nhiên, ở đây vẫn có những khác biệt sâu sắc. Bình thường, tư sản chỉ có tiền. Bây giờ, giai cấp tư sản đỏ không những có tiền mà còn có quyền và quan trọng nhất, có súng và có cả một hệ thống quân đội cũng như công an hùng hậu để đàn áp thẳng tay bất cứ người nào chống đối lại họ, dù chống đối một cách chính đáng khi bị cướp nhà và cướp đất. Giới vô sản ngày trước chỉ bị bóc lột. Giới vô sản bây giờ thì vừa bị bóc lột vừa bị áp bức.

Nhưng mâu thuẫn giữa đảng và dân chúng không dừng lại ở phạm vi kinh tế. Nó còn bao gồm hầu như trong mọi lãnh vực, từ xã hội đến văn hóa và chính trị. Chỉ riêng trong lãnh vực chính trị, mâu thuẫn lớn nhất là ở thái độ đối với nguy cơ bị Trung Quốc xâm lược. Trong lúc dân chúng bừng bừng phẫn nộ, đảng vẫn dửng dưng. Không những dửng dưng, họ còn ra tay vu khống, nhục mạ và  trấn áp bất cứ người nào xuống đường hay lên tiếng chống Trung Quốc. Suốt mấy năm vừa qua, đã có bao nhiêu phiên tòa xét xử và kết tội những người yêu nước. Những phiên tòa ấy được dựng lên để một mặt, trả thù những người dám, vì lòng yêu nước, lên tiếng chống Trung Quốc; mặt khác, để răn đe dân chúng. Nhưng việc làm ấy lại có những tác động ngược: nhà cầm quyền hiện hình, thứ nhất, trước mắt thế giới, như những tên độc tài tàn bạo; và thứ hai, trước nhân dân Việt Nam, như những kẻ đã bán mình cho Trung Quốc.

Nhà cầm quyền càng mạnh tay bao nhiêu, tác động ngược thứ hai nêu trên càng lớn bấy nhiêu. Nó càng lớn bao nhiêu, mâu thuẫn giữa đảng và dân chúng càng sâu sắc và khó hóa giải bấy nhiêu. Nhà cầm quyền muốn xoa dịu các mâu thuẫn đó bằng cách gia tăng các nỗ lực tuyên truyền; ngoài các hình thức tuyên truyền truyền thống, bây giờ còn thành lập lực lượng “dư luận viên” chuyên môn nhảy vào các website độc lập để đánh phá, xuyên tạc và bênh vực cho chế độ! Tuy nhiên, đó không phải là những biện pháp có tính chiến lược và hiệu quả.

Mâu thuẫn thứ hai ở Việt Nam bây giờ là mâu thuẫn giữa đảng và chính phủ. Trước, đảng Cộng sản và chính phủ là một. Đúng hơn, chính phủ lúc nào cũng nằm trong tay đảng, chịu sự sai khiến của đảng. Từ thời Lê Duẩn đến Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, thậm chí, thời Lê Khả Phiêu, đảng luôn luôn là kẻ quyết định mọi chuyện. Thủ tướng, ngay cả những thủ tướng có tâm và có tài, như Phạm Văn Đồng và Võ Văn Kiệt, cũng có quyền lực rất hạn chế. Nhưng từ thời Nông Đức Mạnh làm tổng bí thư, do kém năng lực, quyền hành cứ san sẻ dần sang tay thủ tướng. Đến thời Nguyễn Phú Trọng, từ đầu năm 2011, cán cân quyền lực rõ ràng nghiêng hẳn về phía Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trong trận đấu kịch liệt giữa Nguyễn Phú Trọng – Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng vào cuối năm ngoái, ai cũng thấy Nguyễn Tấn Dũng chiếm thế thượng phong. Nhóm Nguyễn Phú Trọng – Trương Tấn Sang, để củng cố thêm thế lực, đã cho tái lập Ban Nội chính Trung ương và giao cho Nguyễn Bá Thanh, một người từ lâu, ở Đà Nẵng, nổi tiếng dám nói dám làm. Bây giờ bên đảng sẽ có ba người, thay vì chỉ có hai như trước. Sau màn đánh phủ đầu Nguyễn Bá Thanh về vấn đề nhà đất ở Đà Nẵng trước khi ông ra Hà Nội tiếp nhận chức vụ mới của Nguyễn Tấn Dũng, mọi người đều tin những trận đấu sắp tới giữa hai phe sẽ càng ngày càng kịch liệt hơn nữa.

Điều cần chú ý là: việc người đứng đầu chính phủ mạnh hơn tổng bí thư đảng nên được xem là một dấu hiệu tích cực. Nhiều người lên tiếng chống lại Điều 4 trong Hiến pháp xem đảng là người duy nhất lãnh đạo đất nước, thường quên một điều: việc thắng thế của thủ tướng đối với tổng bí thư là một điều đáng mừng. Nó chứng tỏ, một, đảng đang yếu thế; và hai, chính phủ đang dần dần tạo được thế độc lập với cái đảng đang yếu thế ấy. Đó là một xu hướng tốt.

Điều nghịch lý là, vị thủ tướng đang ở thế mạnh hơn cả tổng bí thư, và không chừng cả Bộ Chính trị ấy, lại là người nổi tiếng, thứ nhất, về tham nhũng và lợi dụng quyền hành để cho con cái và thân nhân tham nhũng; thứ hai, bất lực trong việc điều hành kinh tế bằng những chính sách sai lầm và cả bằng việc dung dưỡng cho đàn em của mình tham nhũng. Hậu quả là hết tổng công ty này đến đại tập đoàn kia phá sản, để lại những gánh nặng khổng lồ cho dân chúng, không phải chỉ trong thế hệ này mà còn nhiều thế hệ kế tiếp. Thành ra, thế của ông càng mạnh bao nhiêu, tài sản quốc gia càng kiệt quệ bấy nhiêu.

Đối diện với nghịch lý ấy, người dân không khỏi băn khoăn: Bênh vực cho Nguyễn Phú Trọng – Trương Tấn Sang – Nguyễn Bá Thanh vì họ chống tham nhũng cũng có nghĩa là bênh vực cho những thế lực đang phục hồi lại quyền độc tôn của đảng, điều đã gây tai họa cho dân chúng từ gần 60 năm nay (tạm kể từ 1954, ở miền Bắc). Nhưng bênh vực cho Nguyễn Tấn Dũng, tuy, trên lý thuyết, sẽ giúp làm cho chính phủ mạnh hơn, có khả năng dần dần tạo nên những tiền đề tốt cho dân chủ thì lại cũng đồng nghĩa với việc ủng hộ tham nhũng.

Trong bài thơ “Đá ơi” sáng tác năm 1989 ở Campuchia, Nguyễn Duy có mấy câu thơ sau này thường được nhiều người nhắc nhở:

nghĩ cho cùng
mọi cuộc chiến tranh
phe nào thắng thì nhân dân đều bại

Mấy câu thơ ấy không phải lúc nào cũng đúng.  Có rất nhiều cuộc chiến tranh, như các cuộc chiến tranh chống độc tài, nhân dân không hề bại. Tuy nhiên, trong tình hình chính trị Việt Nam hiện nay, câu thơ ấy có lẽ là đúng: Ông Lú thắng hay ông Ếch thắng thì nhân dân cũng đều bại cả.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Cựu dân biểu đóng góp cho Hiến pháp

12:40 |
Bà Đặng Thị Hoàng Yến
Bà Đặng Thị Hoàng Yến bị bãi miễn tư cách đại biểu QH hồi tháng Năm năm ngoái

Cựu dân biểu Đặng Thị Hoàng Yến gửi thư cho Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đóng góp ý kiến về sửa đổi Hiến pháp 1992.

Bà Yến, Chủ tịch Tập đoàn Tân Tạo, bị Quốc hội bãi miễn hồi tháng Năm năm ngoái.

Bà cũng là chị gái đại biểu QH Đặng Thành Tâm, người mới đây đã bị một số báo trong nước cáo buộc sai phạm tài chính.

Trong thư gửi ông Nguyễn Sinh Hùng, bà Yến nói tuy đang nghỉ để điều trị bệnh, bà vẫn muốn chia sẻ một số 'điều tâm huyết'.

Thoạt tiên, theo bà Đặng Thị Hoàng Yến, Hiến pháp hiện tại "chưa nêu rõ ràng và đầy đủ" về quyền sống của các công dân.

Bà đề xuất bổ sung và quy định rõ trong Chương II về Quyền con người của Hiến pháp những quyền cơ bản bao gồm quyền tự do ngôn luận; quyền tự do mưu cầu hạnh phúc; quyền tự do tôn giáo, quyền tự do hội họp và quyền tự do kiện Chính phủ.

Bà cũng cho rằng cần bổ sung và quy định rõ quyền tự do thành lập và gia nhập Đảng phái và "những Đảng phái này được quyền thành lập, tham gia vào Quốc hội và Chính phủ để điều hành đất nước nếu được sự tín nhiệm của nhân dân thông qua bầu cử".

Theo bà Yến, Trung Quốc hiện nay có tới chín chính đảng, mà vẫn phát triển và Việt Nam cần dựa vào bài học của Trung Quốc.

Dân chủ thực sự


Bà Hoàng Yến từng tiếp xúc với các lãnh đạo cao cấp

Bà Đặng Thị Hoàng Yến cho rằng cho phép đa đảng, "đất nước sẽ bước trên con đường dân chủ thực sự".

"Đảng Cộng sản cũng sẽ có động lực thúc đẩy để tự đổi mới, đại diện cho nhân dân và được nhân dân ủng hộ."

Bà nói: "Hiện nay, việc chỉ có một Đảng đã khiến cả thế giới lên án".

Vị cựu đại biểu Quốc hội cũng góp ý kiến về quyền sở hữu đất đai, với quan điểm "tất yếu phải có đa sở hữu trong lĩnh vực đất đai, phù hợp với các thành phần kinh tế".

"Thực tế, hàng năm có tới 70 – 80% khiếu kiện kéo dài liên quan đến lĩnh vực đất đai chỉ vì Chế độ sở hữu đất đai không tương thích với nhiều thành phần kinh tế đã được Luật pháp công nhận đang vận hành và phát triển khá tốt."

Bà khuyến cáo đổ cho người dân được quyền lựa chọn sở hữu hoặc thuê đất.

"Như vậy,sẽ giúp cho Nhà nước có khoản thu lớn cho Ngân sách, và hơn hết giúp cho chấm dứt được khiếu kiện kéo dài và tham nhũng hoành hành trong lĩnh vực đất đai."

Bà Đặng Thị Hoàng Yến bị Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết luận hồi năm ngoái là không trung thực trong khi khai hồ sơ ứng cử.

Bà bị cho là không khai việc đã từng là đảng viên và không khai có chồng, một Việt kiều, đang bị công an Việt Nam truy nã.

Ngày 5/5/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành đề nghị bãi nhiệm tư cách đại biểu của bà.

(BBC)